Trai nước Nam làm gì?.pdf (ý chí thanh niên) | Tải miễn phí

Trai nước Nam làm gì?

pdf

Số trang Trai nước Nam làm gì?
55
Cỡ tệp Trai nước Nam làm gì?
311 KB
Lượt tải Trai nước Nam làm gì?
0
Lượt đọc Trai nước Nam làm gì?

5

Đánh giá Trai nước Nam làm gì?

4.1

(

4

lượt)

55311 KB

Nhấn vào bên dưới để tải tài liệu

Đang xem trước 10 trên tổng 55 trang, để tải xuống xem đầy đủ hãy nhấn vào bên trên

Chủ đề liên quan

Tài liệu tương tự

Nội dung

Trai nước Nam làm gì?

Hoàng Đạo Thúy
Nhà xuất bản Thời đại – Hà Nội, 1943
Nguồn sách: Thuộc dự án Bất Động Sản số hóa của sachxua.com

Hoàng Đạo Thúy là nhà Thành Phố TP.HN học số 1 của Việt Nam. Ông có nhiều tác
phẩm thuộc nhiều nghành giáo dục, xã hội, chính trị, quân sự, lịch sử, văn hóa…
đặc biệt là những tác phẩm về nghành nghiên cứu lịch sử văn hóa truyền thống Hà Nội. Năm
1943, Hoàng Đạo Thúy viết cuốn sách “Trai nước Nam làm gì?” để lôi kéo thanh
thiếu niên rèn luyện trí tuệ, đạo đức, ý chí và thể lực, chờ ngày giúp nước. Cuốn
sách được viết cách đây hơn 60 năm, nhưng tính thời sự và giá trị giáo dục của tác
phẩm vẫn còn có ý nghĩa thâm thúy trong đời sống ngày hôm nay. Chungta.com xin
trân trọng ra mắt với bạn đọc cuốn “Trai nước Nam làm gì?” của nhà Hà Nội
học Hoàng Đạo Thúy.
Tôi biết rằng tôi hoàn toàn hoàn toàn hoàn toàn có thể nói thẳng với anh.
Hãy nói lại chuyện cũ. Chuyện mấy năm trước đây thôi.
Lúc bấy giờ trông xa thì thấy gì?
Bốn bể sóng cồn. Mà một khi làn nước yên bình đã nổi giận, sức mạnh không
biết đến bực nào.
Văn-minh vật-chất chỉ mạnh nuôi cho lòng dục, mà lòng dục đã tha-hồ tung-hoành
thì dẹp được nó không phải là việc dễ.
Thế-giới đã ốm rồi. Ốm tinh-thần, mà những sác lại nuôi rặt đồ cao-lương thì bệnh
khó gỡ đấy. Đã thế mà một trăm ông thày thuốc, ông nào cũng dao cầu cho sắc,
viên thuốc cho to, ông nào cũng bốc những bài công phạt, ông nào cũng bỏ đạo
vương mà dùng đạo bá cả, không để cho người ta tỉnh lại tinh thần, không để cho
người ta hoàn hồn, mỗi ông cứ cậy thuốc mình hay, hay hơn cả tạo vật, chữa
không vì bệnh, chữa chỉ để sướng tay, không uống có lẽ rằng rằng rằng ông đè xuống mà đổ
thuốc vào họng.
Phen này nếu người ốm không chịu gắng gượng, tay chân không chống đỡ, để cho
bọn lang băm nó làm liều thì nguy – phải nguy mất: Nghĩ kỹ xem bệnh có những
chứng gì?
Một phần cậy cái sức mới mẻ và lạ mắt của mình, tha hồ mà ước vọng, tha hồ mà bầy vẽ,
mong sao những xác mình nó được thoả đến cùng cực, mặt kệ tịnh thần, mặc kệ tâm
hồn. Thế rồi bầy vẽ mãi, càng bầy vẽ, cái sác càng ước vọng xa, vì lòng dục đã
không bờ, đâm làm rồi đành theo, theo đến chết có lẽ cũng không ngại gì nữa.
Tiền đã thành sức mạnh, tiền đã nên cái lẽ vì no mà sống, thì ắt phải làm hết sức,
bán rất là cho ra tiền. Làm đã đành, nhưng mua cũng phải có khách chứ. Phải có
khách mua mới được. Thiếu khách, đã vừa làm vừa mua mà dùng cũng không hết;
sống để làm ra hàng rồi lại để dùng hàng, cũng chỉ tạm yên thôi. Dùng không hết,
nó ùn lại, nó ứ tắc; làm thế nào cho máy vẫn chạy, tiền vẫn vào, vì vậy lâm vào con
đường luẩn quẩn, cài vòng khổ vây bao nhiêu mạng người ở trong. Vì đó mà gạo

nhiều quá phải đổ bớt xuống bể, hàng nhiều quá phải thiêu bớt đi. Chua chát ở cái
chỗ: bên này thiếu, đổ đi, bên kia vẫn có kẻ đói, chết, kẻ túng thiếu.
Bọn làm ra hàng nhất định phải bán để ra khỏi vòng khổ, tất nhất định phải bắt
người ta trả cho được.
Thành ra nước sông đỏ không phải chỉ đỏ ở đất phù xa, hạt mầm dịch tả người ta
còn nuôi nó để dùng nữa.
Có một phần, cái óc sáng sủa qua một phen choáng váng, thành ra ngây ngất.
Quên sức sống của mình nó vẫn thâm trầm, thấy người nhẩy nhót cũng nhẩy nhót
cũng ốm nốt.
Quay cuồng cả, vì danh làm mê, vì lợi làm mê, vì của ngon vật lạ làm mê. Bệnh
điên rồi. Điên thì biết còn giữ làm thế nào được.
Gốc bệnh chỉ là ở chỗ không giữ được bản tính người thôi.
Cái đức sáng đã mờ đi, lại không cố làm cho cái sáng cái đức sáng. Bệnh ở tâm ở
óc, lại bổ ruột, bổ dạ dày, bằng ăn, bằng chơi thì thế hư mất rồi. Ấy trông ngoài thì
thế.
…….
Một số nhỏ, tự phụ mình là thượng lưu, ăn dẫu không tất được no, nhưng mặc tất
phải sang mới thích. Bọn này gần những người điên nên cũng điên. Những trò tầm
thường ở nhà chớp bóng đã cho là hay, có ngờ đâu nó chỉ đủ nhồi vào mấy lỗ hổng
trong óc. Thừa thời giờ, không muốn khổ về suy nghĩ, nhọc về học tập, thì quay,
thì nhẩy, vì học người thì môn học này thật là tốn công ít nhất. Việc làm đã chỉ
cho là một cách kiếm ăn thì kiếm ăn được rồi mà còn được chơi nữa, còn mong
ước ao cao xa làm gì. Đã không ai để bận việc gì đến mình, có nhà không phải giữ,
có con không phải dạy, còn mất không phải để tâm đến, còn vạ gì kiếm cho ra
việc, làm cho được việc, nghĩ đến người ở ngoài mình, lo đến việc ở ngoài mình.
Đã lầm tưởng múa may là hoạt động, kêu là là truyền bá, tổ chức triển khai là văn hoá, mơ
màng là tư tưởng, thì rượu chưa say đã có thuốc phiện. Muốn an ủi cái sức vóc
thôi, thì đã có trường đen đỏ, Thế cũng xong, vì chết cũng là một cái xong.
Ngoài như thế, trong như thế, khỏi sao làm người ta phải lo âu.
Trông thấy quanh mình như thế… Vì cho rằng, sức níu lại không còn được, nên
không khai công níu lại. Ai cũng bảo thôi, muộn lắm rồi.

Cơn dông đến. Nhiều tay tưởng rằng mạnh chèo chống, không chèo chống. Nhiều
giá trị tưởng nhất định mà không nhất định. Bao nhiêu việc thay đổi. Bao nhiêu
nỗi thống khổ mà đã biết khi nào thôi cho.
Bên phương Tây kia, chứ chẳng những mấy người biết nghĩ ở bên ta, nhiều người
tự hỏi rằng: đã lạc đường rồi ư? Đã điên thật à? Luân lý có lẽ là một giá trị, đạo
đức có lẽ là một nhẽ sống. Vật chất làm nguy thật rồi.
Nước Pháp nguy. Thống chế Pétin lập lại nền nước, đem những từng trải, những
suy xét của ngoài tám mươi tuổi mà làm việc, cũng nhận rằng: phải trả lại giá trị
cho những giá trị cũ, giá trị lao công, gia đình nghiêm phép, tổ quốc thiêng liêng;
không nói tiền, chỉ nói đức; đừng vội chơi, hãy biết khổ.
Mà Thống chế Pétain không phải là một mình, bao nhiêu người cũng thấy như thế.
***
Thanh niên nước Nam, anh ạ, hãy thôi đừng chế bác những người mà anh vẫn
cười rằng: “ưu thời mẫn thế”, những người mà anh cho là kém vì chỗ không biết
trẻ, biết vui.
Anh nghĩ xem, anh là một thành phần của nhà anh, của nước anh, một hy vọng của
đời; nếu mặc đẹp, ăn ngon, uống rượu say, xem trò lạ, nghỉ mát cho thoả, đánh bạc
cho giết thì giờ, thì anh quẳng cái tập này đi, nếu anh cho thế là xong, ừ thì là
xong.
Nhưng nếu anh có gan óc, có sức vóc, thì anh chưa cho thế là xong được. Anh
phải tìm lấy một con đường mà đi.
Anh phải lập trí, từ hôm nay, từ giờ này mới được.
Anh thường phàn nàm về cái của hương hoả của ông cha để lại nó nhẹ nhàng quá.
Ông cha ta chẳng để lại được cho ta một cái gì mà mắt thấy được, thật đấy. Nhưng
đem nhau tự đâu mà đến cõi đất này, chống phía Bắc, mở phía Nam, mỗi lần thắng
đủ làm bất tử cho cả một bộ sử, bao nhiêu nước mắt, bao nhiêu máu vẩy ra rồi,
ông cha ta đã để cho ta một cái hương hoả vô cùng quý, đó là chí khí.
Ai dạy được ai cho có chí, nhưng biết rằng trong tâm hồn anh có sẵn mầm mống,
nên gọi anh đó.
Anh lập chí ngay để mà thao tác cho Tổ quốc

Anh đợi thì rồi lại như những người mấy năm trước đã đợi, rồi thấy chậm mất rồi,
lần nào cũng chậm mất rồi vì không lần nào quyết tâm làm cả. Cái cảnh vuốt bụng
thở dài, nhìn trời mà than vãn phỏng anh có chịu được không?
Nước nhà mong ở anh đấy, đời đợi anh đấy.
Khi nói “anh” là nghĩ cả “chị” nữa.
Trai anh hùng gái cũng nữ anh hùng.
Gọi là anh thư thì vừa không đúng, vừa tục. Khi kề vai vào việc làm thì khăn yếm
kém gì mày râu, mà trong nhà siêu đỏ thì chống đỡ, còn hỏi làm gì ai là bồng tang,
ai là son phấn. Chém tướng phất cờ sao không phải việc làm Bà Trưng, Bà Triệu,
cương thường nặng gánh ai đã bằng Thị Thuấn, Thị Kim.
Vì thế chị không nên khư khư nghĩ hai chữ: “giải phóng” của các bà đòi “quyền”.
Ai có quyền, ai lung lạc, mà trong một cặp bạn đường trường chia ngay ra làm hai
phái đánh nhau. Hãy chung vai mà cùng gánh lấy trách nhiệm, mà khi đọc mấy
trang giấy này nhớ cho rằng, anh đó mà cả chị đó.
Chí ta lập, cái chí ấy phải bền, phải mạnh.
Thày Khổng nói rằng: “Giữa đám ba quan có thể cướp được chủ suý, mà cái chí kẻ
thất phu thì không cướp được”. Câu nói mạnh mẽ thay, chí người ta có thể vững
được đến thế.
Đẻ ra mà không có chí khí thì chết thôi. Nhưng đã nói rằng người nước Nam này
ai cũng đã được ông cha để lại cho một cái khí niều hay ít rồi. Cái khí mà Văn
Thiên Tường gọi là chính khí, thì là sông núi, trên thì là nhật tinh nó đầy rẫy trời
đất.
Nhan cái khí đã có thì không sợ gì nhụt, không sợ gì hèn. Thêm cái chí vào thì
không sợ gì yếu gan, không sợ gì bỏ giở việc nữa. Hai thứ cùng luyện, luyện thành
chí khí.
Chí khí là một cái sức mạnh rất lớn của tâm và của hồn. Người có chí khí lâm vào
việc vẫn tỉnh táo, bạo, nhiệt thành, vẫn đủ sức chống chọi, vẫn đủ can đảm nhận
công việc, cả quyết biết xấu hổ, không chịu nhục, có khí khái, giữ được phẩm cách
con người. Người có chí theo được mãi một mục đích, găp nguy hiểm mà lòng
không nản, trên đường xa gối không chồn, vững dạ bền gan, cái chết không doạ
nổi.

Một người có chí khí là ông Thái Tổ nhà Lê. Làm một người cầy ruộng mà không
chịu ép mình, nười năm gian truân mà việc làm làm đến được. Gương sáng của ta
đó.
Có kĩ năng mà không có chí khí thì năng lực mà làm gì. Không tài năng mà có chí
khí thì rồi cũng có tài năng, cũng làm được. Bao nhiêu người thành công, xét đến
gốc là nhờ chí khí cả.
“Trời mới lạnh cỏ cây thường đã rụng lá. Tuyết xuống dầy mà cây tùng cây bách
vẫn xanh tươi. Tùng bách hơn các loài cây là thế”. Đó là lời thầy Khổng.
Chí khí ta quyết là đã có mầm rồi, Hãy bồi bổ lấy nó. Trong đám súng kêu đạn nổ,
có cái thủ đoạn anh hùng trong chốc lát, việc vẫn có thể làm được. Nhưng chỗ
vắng ngồi một mình, giữ được mình, sai được mình, nếu không có thì có khi phải
hàng. Phải gắng gỏi ở lúc ngồi một mình ấy. Những việc nhỏ, cho là nhỏ mà
không làm, những cái thắng nhỏ cho là nhỏ mà không thắng, thì thao tác lớn,
thắng cuộc lớn sao được. Bởi thế mà mỗi phút, mỗi việc anh phải thắng cả mới
được. Trời rét, dậy sớm đi tập thể dục, anh cũng cần gan mới làm nổi. Không đợi
người đem nước đến, anh đi múc lấy nước lạnh, cũng phải chí mới làm được. Anh
phải bắt, phải bó buộc, phải nghiêm, phải nghiệt với mình anh. Một ngày trăm
trận, ở chỗ không một người nào nhìn thấy anh, trận nào anh cũng thắng, ngày
nay, ngày mai, ngày nào cũng thế, thế mãi, ấy cái cách luyện chí là thế.
Thấy kém, thấy yếu biết là xấu; biết hổ thẹn, càng cố gắng, ấy cái cách nuôi khí ở
cả đó.
Thanh gươm phải trăm lần rèn mới là quý. Nếu không mài, không rũa, không thiết
tha, thì luyện sao được một chí khí anh hùng, không có chí khí anh hùng thì mong
sao làm mà chắc được.
Anh giống Lê Phán Quan.
Phán Quan tình nguyện theo Lê Thái Tổ, trong mười năm, bầy mưu mô trong
trướng, xông tên đạn trên chiến trường, sinh tử bao phen, đến lúc công thành, một
khăn gói lên vai, nhẹ bước ra đi, coi công danh sự nghiệp như rơm rác; đi rồi không còn để
đến tên tuổi lại nữa.
Phán Quan là chức việc của ông. Lê là họ vua ban cho. Chứ có ai biết ông ấy là
người nào đâu. Ấy thanh cao thì anh giống Lê Phán Quan.
Anh giống Triệu Vua Bà
Làm thân gái trong khi nước có nạn lớn, không chịu ẩn mình sau vuông yếm,
chiếc khăn, Vua Bà chiêu mộ hào kiệt, trong ngàn tây, dựng cờ vàng, ngồi đầu
tượng, trăm phen ác chiến. Bây giờ theo đường thiên lý, anh ruổi xe, còn mười

dậm nữa đến Thanh, bên tay phải, trên đỉnh Tượng sơn, một cái nấm nhỏ, làm cho
anh máu bồng bột trong tim. Anh giống ai? Giống Triệu Vua Bà chắc hẳn.
Anh giống Lê Thái Tổ.
Dân áo vải, khẩn ruộng hoang, cũng không chịu an thân làm ông trưởng giả. Lê
Thái Tổ huý Lợi, coi việc thiên hạ là việc mình. Giầu sang mồi không đủ dử ông,
gian nan khổ không nạt được ông; mười năm nằm gai nếm mật, lương cạn ở Chí
Linh, quân tan ở Côi huyện, chui trong bụi rậm mà còn có gan chịu lưỡi giáo của
quân thù, mất cả vợ con mà vẫn không nhụt chí, chẳng đội giời cùng giặc cướp.
Cái chí ấy mới thắng được trận ở Mã Yên, cái chí ấy mới đuổi được quân Ngô ra
ngoài cõi. Cái chí bà Triệu, cái chí vua Lê, phải không vẫn là chí của anh. Anh
giống Thái Tổ nhà Lê.
Anh giống vua tôi nhà Trần.
Mười lăm tuổi lấy việc không được đầu quân làm xấu hổ, anh giống Trần Quốc
Toản; dưới lưỡi đao hành hình, không thèm làm Bắc Vương, anh giống Bình trọng
Trần tướng quân. Chứng chọi với đá không ngại ngùng, đem một tốp quân cha con
anh em chống với năm mười vạn Mông cổ đã ruổi rong từ Á sang Âu, chữ “Sát
Thát” thích vào tay, lời thề trên sông Hoá; anh đọc sử đến đấy phải ca, phải khóc,
phải lấy làm vẻ vang, phải có được hy vọng ở cái khí của dân ta. Bẩy trăm năm là
bây giờ, anh vẫn thấy rằng anh là dòng dõi, anh giống Hưng Đạo Vương Trần
Quốc Tuấn.
Võ Tánh, Lê Trạc, Roãn Chi…
Võ Tánh tự đốt ở Bình Định, Lê Trạch tự chôn ở Cao Bằng. Roãn Chi tử trận với
phủ Phú Bình. Bấy nhiêu người thề cũng thành cùng sống thác. Một vừng chí khí,
gây từ sông núi này. Anh thấy anh cũng có thể có gan ấy, cũng nhận được trách
nhiệm ấy.
Anh giống ai? Giống ông Văn Trinh.
Lấy một thày đồ kiết mà nộp sớ xin chém bẩy nịnh thần, ông Chu Văn An sợ gì
một cái chết. Trong thời suy đồi, làm Thái Sơn cho bọn học giả theo, làm mốc đá
cho sĩ phu bước đến, ông nhận lấy chức trách đó của người quân tử, để vững cho
lễ nghĩa. Phải không, ông Chu Văn An vẫn là thày anh.
Anh giống Phạm Tử Nghi.
Đi qua bến đò Niệm Hải Phòng, anh cũng thấy nức lòng, anh cũng muốn tập
luyện, anh cũng muốn có cái thần dũng của trang tráng sỹ đời Lê Mạc.

Từ ông Lê Như Hộc đi sứ nước người mà lặn lội để đem nghề in về, cho đến ông
Nguyễn Tri Phương bôn ba ở Lữ Tống mà dò xét công việc ngoài, ông Nguyễn
Công Chứ mang hết tài thao lược vào một việc doanh điền. Tổ tiên ta “lập công” là
thế, Bản in làng Liễu Tràng, bền giầu văn hoá ta, ruộng huyện Tiền Hải, đầy kho
dân ta, đó là những việc anh thế nào cũng muốn làm đấy chứ?
Anh làm như ai? Làm như Phạm Ngũ Lão.
Nhà nghèo mà không ngại, mồ côi mà không lo, đường rắn rết, không quản sang
Lào, có tài tướng suý mà làm kẻ chăn voi chăn ngựa; ngồi đan sọt bên đường cái
quan, văn không được bằng người đỗ tiến sĩ lấy làm xấu hổ, võ muốn hơn bằng
bối thì tập nhẩy tập đánh, không sợ ai chê cười.
Người đáng làm kiểu mẫu cho ta là Phạm tướng quân đó.
Chịu được nghèo, chịu được nhọc, chịu tập thân thể, thích văn chương, biết xấu hổ
mà lại nhũn nhặn, thao tác lớn mà vẫn thương người. Gương của người trẻ tuổi ta
còn tìm đâu xa nữa.
Một cái trên này nhắc đến luôn là “biết xấu hổ”. Thày Khổng bảo rằng: “Biết xấu
hổ là gần được bậc dũng”.
Phải nhũn nhặn mới biết được chỗ chưa bằng người, mới biết thế nào là nhục. Biết
là nhục mới có đủ sức mạnh để làm. Xấu hổ là cái sức nóng để nung nấu “chí”.
Cốt phải nhớ cái gốc đã.
Cây không rễ phải đổ, nhà không nền thì lung lay. Chập chờn trên mặt nước là
thân phận cây bèo. Đá rắn cũng ăn vào cho được, là sức mạnh của cây tùng cây
bách.
Ngắm người, nghĩ mình, tang thương của nòi giống, xa có người da đỏ, gần có
người Hời.
Nói về văn hoá thì có văn hoá giống ở nhà, văn hoá giống ở lều. Người Mông Cổ
và người da đỏ là giống ở lều. Kẻ ở lều mà như người da đỏ thật đã đến được một
bậc cao lắm.
Người da đỏ đất cát bị người Anh, người Ý Pha Nho chiếm mất nhiều, phải lui vào
ở một cõi nhỏ. Ấy thế mà chưa qua một thế kỷ giống ấy đã hầu như không có nữa,
không phải rằng chỗ đất người Mỹ để dành cho không đủ để sống; cái cớ mòn mỏi
là ở chỗ không còn tin rằng có thể ở lều được nữa, thi nhau sống lối Mỹ, mặc đồ

Mỹ; đến rượu mạnh của Mỹ vào thì thật tan nát hết. Bây giờ có gặp người da đỏ,
hoạ chăng ở một vài xóm cùng, trong mấy nhà xiếc, làm trò cưỡi ngựa, bắn súng
cho người ta xem với mấy bộ mũ lông chim phượng hoàng làm bằng giấy.
Gần ta thì có người Hời.
Ngoài những nông nỗi thường của người sống cạnh kẻ thắng mình thì người Nam
đối với người Hời cũng không thấy ai kể lại hay ghi chép những cung cách gì là
quá lắm.
Thế mà, ngày nào trong thời thuộc Tầu, thành Long Biên chạy tán loạn về giặc
Lâm Ấp.
Cũng ngày nào kinh thành Thăng Long, trẻ giắt già, mẹ bồng con chạy loạn Chiêm
Thành, cả Vua lẫn quan bỏ kinh đô mà sang ẩn bên Bồ Đề.
Ba trăm năm chưa qua hết.
Mà ngày nay, muốn tìm người Hời, đến tận mấy cái tháp chơ vơ trên đỉnh đồi, hay
mò vào những vùng núi sâu cũng không thấy. Có còn chăng nữa chỉ có vài làng ở
những cồn cát Phan Rang với mấy xóm thơ thớt trong Nam Kỳ, thế thôi. Mà người
Hời, nào có phải là mấy ông súng sính áo thụng, mấy bà múa may đồng cốt mà
người ta vẫn bầy ra trong bộ “nhân chủng” không? Có phải là những bà già len lét
sau một bụi cây rậm, khăn chùm đầu lê thê, tóc xoã như mấy mụ khóc thảm thiết
trong một đám ma to nào ấy. Mà không biết là có phải là người Hời không, mấy
tốp da ngăm ngăm đen, vớ đâu được đạo Hồi – hồi, vẫn gập ở lục tỉnh.
Khó nhọc tìm dòng dõi những vua danh liệt như Khu Liên, như Chế Bồng Nga, thì
chỉ thấy một người đàn bà say dí dị, hay tỉnh khóc tỉ tê bên bờ giếng.
Cơn cớ đâu mà đến nông nỗi này…
Kể từ khi những người phiêu lưu từ Mã Lai vượt bể, đến chia nhau rải rác mà ở, từ
Hoành Sơn trở về Nam, lập nước cũng đã vài ngàn năm rồi.
Dù khi gây dựng chưa được bên, bị nhà Tần nhà Hán (đời Triệu ta) đến chiếm, cho
một quân Tượng với nước ta cũng chỉ làm một Giao châu. Nhưng trong vài trăm
năm, Khu Liên đã nổi lên, giết hết bọn thú lịnh lầu, dựng nên nước Lâm Ấp.
Rồi từ đó một nước thênh thang, dẫu có lúc hoà, lúc phải cống An Nam, cống Tàu,
nhưng vẫn nghênh ngang bên bờ cõi, ai cũng phải gờm phải nể.

Không chịu ở yên với dãy núi, lắm lúc cũng ra cướp miền Hoan, Ái (Nghệ,
Thanh), vết chân voi cơ hồ không sức nào giữ được nữa.
Cái nghề giàu sang sinh tệ, thanh sắc đâm mê.
…………..
Mà cách thờ cúng xa hoa, mê tín dị đoan hão huyền; mười pho tượng bằng vàng chỉ tổ làm
cho người ngoài dòm nom.
Kinh đô từ Phật thệ đã lùi vào Trà Kiệu.
Năm lịch tây 1067, mất đất đến Hà Tĩnh.
1307, vì ngòm ngõi một nàng công chúa cành vàng lá ngọc mà Chế Mân nhắm
mắt dâng đến ba châu, cho đến tận Thuận Hoá.
Kinh đô lại lùi vào đến Chà Bàn.
…………
Chế Bồng Nga (1366) gọi tỉnh cả nước, đem binh tướng rong ruổi. Cha con nhà
Trần phải bỏ Thăng Long đến mấy lần. Không ngờ một tay phản quốc đưa vị anh
hùng như vậy đến trước mũi tên của Trần Khát Chân, để kết quả, rất đỗi thảm
thương, một đời oanh liệt.
…….
1402, nhà Hồ lấy đến Quảng Nam.
Chà Bàn, kinh kỳ của Chế Bồng Nga, bị Lê Thánh Tôn hạ (1470). Kinh đô cuối
cùng của Chiêm thành bị phá.
Từ đấy trở đi, mất tỉnh này, mất tỉnh khác, chỉ là một cái đương nhiên thôi. Chúa
Nguyễn Phúc Tần lấy Khánh Hoà. Năm 1697 chúa Phúc Chu lấy Phan Rang, Phan
Ri.
Nước Chiêm Thành hết đất, cái này không cai hệ gì mấy, nếu người Chiêm thành
còn, Nhưng mà đau đớn nhất là người Chiêm Thành không còn nữa… Người
Chiêm Thành lúc bấy giờ tự sáu bẩy triệu chỉ thú nhận có vài nghìn, mà trong vài
nghìn ấy, gốc tích tổ tiên không còn nhớ gì, không tự cho mình là những người có
một giá trị chẳng kém gì ai, không tin rằng mình thao tác cũng có thể như người
ta hay hơn người ta được, mà chỉ cho như người ta mới là đẹp, là hay, là phải, thế
thì không biết có còn mong mỏi gì được không.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *